Đề án đưa công dân Việt Nam đi học ở Nga, Trung Quốc và Đông Âu giai đoạn 2026 – 2035

Ngày 10-12, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2672/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án “Đưa công dân Việt Nam đi học tại Liên bang Nga, Trung Quốc, các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ giai đoạn 2026 – 2035”. Quyết định do Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký, đánh dấu một bước triển khai quan trọng trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao ở những quốc gia có nền giáo dục truyền thống và thế mạnh đặc thù về khoa học – công nghệ.

Mục tiêu xuyên suốt của Đề án là đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao ở trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và thực tập ngắn hạn tại các quốc gia nói trên. Đây cũng là những nước có quan hệ hợp tác giáo dục lâu dài với Việt Nam và có lợi thế đáng kể trong các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ cao, quốc phòng – an ninh và nhiều lĩnh vực then chốt khác. Đề án nhấn mạnh ưu tiên gửi ứng viên sang học tập tại những ngành mà các nước này có thế mạnh vượt trội, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh mới.

Theo kế hoạch, giai đoạn 2026 – 2035 mỗi năm sẽ có khoảng 1.500 ứng viên được cử đi đào tạo theo chương trình học bổng Hiệp định và ngoài Hiệp định. Trong đó, khoảng 1.000 ứng viên dự kiến sẽ học tại Liên bang Nga, và 500 ứng viên còn lại được phân bổ cho Trung Quốc, các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ. Tuy nhiên, số lượng chính thức có thể thay đổi tùy theo chỉ tiêu học bổng phía đối tác cấp, nhu cầu đào tạo thực tế và khả năng cân đối ngân sách nhà nước.

Việc triển khai tuyển sinh đi học theo Đề án sẽ bắt đầu từ năm 2026 và duy trì đến hết năm 2035. Quyết định cũng chính thức bãi bỏ các chỉ đạo trước đây liên quan đến tuyển chọn ứng viên học bổng Hiệp định ở các quốc gia thuộc khu vực này.

Đối tượng, ngành học và phương thức đào tạo

Đối tượng được xét tuyển theo Đề án gồm công dân Việt Nam đáp ứng tiêu chí riêng của từng nước. Với những trường hợp đã đạt điều kiện nhận học bổng của Chính phủ nước ngoài, Nhà nước Việt Nam sẽ xem xét hỗ trợ cấp bù kinh phí nếu thuộc diện quy định; ngược lại, ứng viên vẫn được đi học theo học bổng do nước ngoài cấp.

Đối với trình độ đại học, tiêu chí được phân chia theo quy mô chỉ tiêu học bổng:

  • Với các chương trình từ 100 chỉ tiêu trở lên, ưu tiên học sinh – sinh viên năm thứ nhất có học lực tốt ở bậc THPT, thuộc các nhóm: người dân tộc thiểu số, hộ nghèo, con liệt sĩ, cư trú ở vùng núi/hải đảo, hoặc con cán bộ ngoại giao đang làm việc tại nước tiếp nhận. Ứng viên học ở nước ngoài phải có điểm THPT từ 8.0 trở lên.
  • Nhóm đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, quốc gia, quốc tế; đạt giải chính thức ở các cuộc thi nghệ thuật, thể thao. Riêng ứng viên đi Nga bao gồm cả người đoạt giải Olympic tiếng Nga hoặc sinh viên ngành ngôn ngữ Nga được chuyển tiếp học bổ sung 1 năm tiếng Nga.
  • Nhóm do bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước đề cử để đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu.
  • Sinh viên năm nhất thuộc các trường lực lượng vũ trang.

Với chương trình dưới 100 chỉ tiêu, mở rộng thêm cho học sinh – sinh viên có học lực THPT tốt.

de an dua cong dan viet nam di hoc o nga trung quoc va dong au giai doan 2026 2035

Đối với trình độ thạc sĩ và tiến sĩ, các nhóm đối tượng chính gồm:

  • Cán bộ, công chức, viên chức; người lao động trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, cơ sở giáo dục.
  • Người tốt nghiệp đại học loại giỏi trở lên, hoặc tốt nghiệp thạc sĩ đạt từ 8.0 trở lên, đủ điều kiện chuyển tiếp trình độ cao hơn.
  • Đối tượng được các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước cử đi học nhằm đào tạo nhân lực chất lượng cao và cam kết trở về công tác.

Đối với thực tập ngắn hạn, đề án dành cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong hệ thống cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục.

Song song với mở rộng đối tượng, Đề án xác định ngành học trải rộng trên tất cả lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, đặc biệt ưu tiên các ngành: quốc phòng – an ninh, trí tuệ nhân tạo, công nghệ cao, điện toán đám mây, công nghệ lượng tử, blockchain, năng lượng, vật liệu mới, công nghệ đất hiếm, hàng không – vũ trụ, đại dương – lòng đất, công nghiệp bán dẫn, công nghệ hạt nhân, đường sắt, công nghệ sinh học, y dược, pháp luật…

Ứng viên được đào tạo toàn thời gian ở nước ngoài tại các cơ sở giáo dục có uy tín ở Nga, Trung Quốc, các nước Đông Âu và những quốc gia thuộc Liên Xô cũ.

Kinh phí thực hiện và cơ chế quản lý

Đề án được triển khai dựa trên ba nguồn kinh phí chính:

  • Nguồn hỗ trợ của các quốc gia tiếp nhận sinh viên Việt Nam, gồm cả diện Hiệp định và ngoài Hiệp định.
  • Ngân sách nhà nước Việt Nam, bao gồm chi phí đào tạo và chi phí quản lý Đề án theo quy định pháp luật.
  • Nguồn xã hội hóa từ cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.

Việc quản lý và sử dụng kinh phí được thực hiện theo Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản liên quan nhằm bảo đảm minh bạch, hiệu quả và đúng mục đích.

Đề án không chỉ kế thừa truyền thống hợp tác giáo dục Việt Nam – Nga và các nước Đông Âu, mà còn mở rộng định hướng phát triển nguồn nhân lực chiến lược trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp mới. Với mục tiêu rõ ràng, cơ chế tuyển chọn chặt chẽ và sự hỗ trợ tài chính đa dạng, chương trình hứa hẹn sẽ tạo ra một thế hệ nhân lực chất lượng cao, góp phần vào sự phát triển bền vững và vị thế quốc gia trong thập niên tới.